Knowledge vs Information
Strategy: Trước khi thêm một báo cáo, hỏi quyết định nào sẽ đổi tùy theo con số trong đó - không trả lời được thì đó là thông tin, không phải tri thức.
Tháp DIKW xếp bốn tầng: data, information, knowledge, wisdom. Dữ liệu là ký hiệu hay tín hiệu thô, chưa mang nghĩa cho tới khi được đặt vào ngữ cảnh. Thông tin là dữ liệu đã được gắn nghĩa và mục đích, đủ để trả lời ai, cái gì, ở đâu, khi nào, bao nhiêu. Tri thức là thông tin đã được tổng hợp và hiểu đủ để dùng - gần với know-how, phần lớn tích lũy qua thực hành. Wisdom là tầng phán xét, gồm cả đánh giá nên hay không nên.
Mô hình này bị phê phán khá nặng và nên biết rõ trước khi dùng. David Weinberger phản đối giả định tuyến tính, chỉ ra rằng tri thức không được quyết định bởi thông tin - thêm thông tin không tự nở thành tri thức theo một đường dốc. Martin Frické cho rằng mô hình dựa trên những giả định triết học đã lỗi và trộn lẫn các khái niệm khác loại. Rafael Capurro còn đặt câu hỏi ranh giới giữa thông tin và tri thức có thật sự có nghĩa hay không. Không có đồng thuận học thuật về định nghĩa của từng tầng.
Dù vậy, một phần của phân biệt này vẫn hữu ích đúng ở chỗ nó cắt: ranh giới giữa thông tin và tri thức nằm ở tính hành động được. Phép thử thực dụng là hỏi quyết định nào sẽ khác đi tùy theo giá trị của con số này. Nếu câu trả lời là không có, thì bất kể con số đó chính xác, kịp thời và trình bày đẹp đến đâu, nó vẫn là thông tin. Tri thức là cái đã nối được vào một hành động cụ thể.
Trong tổ chức dữ liệu, phân biệt này giải thích một nghịch lý quen thuộc: số dashboard tăng đều mà chất lượng quyết định không nhích. Một dashboard liệt kê hai mươi chỉ số theo ngày là thông tin dày đặc. Một dòng duy nhất nói tỷ lệ hoàn tất eKYC ở nhóm thiết bị Android tầm thấp thấp hơn mười hai điểm so với phần còn lại, và nhóm đó chiếm hai mươi tám phần trăm người dùng mới, là tri thức - vì nó chỉ thẳng vào một việc phải làm. Khác biệt không nằm ở lượng dữ liệu mà ở việc đã có ai làm xong phần nối vào quyết định hay chưa, và phần đó không tự động hóa được bằng cách thêm công cụ.
Tầng knowledge còn có một thành phần không chuyển thành văn bản được, gọi là tri thức ngầm: điều một nhân viên vận hành biết về các kiểu gian lận nhưng không viết nổi thành quy tắc. Đây là lý do thay người thường làm mất năng lực thật dù tài liệu còn nguyên.
Tầng dữ liệu và thông tin được mô tả chính xác nhất bởi information-theory, nơi thông tin đo bằng mức giảm bất định chứ không bằng số byte. Khoảng cách giữa thông tin và tri thức chính là chỗ information-bias sinh ra: thu thập thêm dữ liệu dù nó không đổi được quyết định nào. curse-of-knowledge là mặt đối xứng, khi người đã có tri thức không còn thấy được rằng người khác chỉ đang có thông tin. Và việc tự kiểm xem mình đang ở tầng nào là công việc của metacognition.