Jevons Paradox
Strategy: Khi đo tác động của một cải tiến hiệu quả, đo tổng lượng tiêu thụ chứ không chỉ mức tiêu thụ trên mỗi đơn vị - hai con số này có thể đi ngược chiều nhau.
William Stanley Jevons quan sát điều này năm 1865 trong The Coal Question. Động cơ hơi nước của James Watt tiêu thụ ít than hơn nhiều so với các thiết kế trước, và theo lập luận trực giác thì nước Anh sẽ dùng ít than hơn. Thực tế ngược lại: than rẻ hơn tính theo công hữu ích làm động cơ hơi nước lan ra ngành này sang ngành khác, số lượng động cơ bùng nổ, và tổng lượng than tiêu thụ tăng vọt. Hiệu quả không tiết kiệm tài nguyên - nó mở rộng phạm vi dùng tài nguyên.
Kinh tế học hiện đại gọi họ hiện tượng này là rebound effect và tách ra ba tầng. Rebound trực tiếp: dùng nhiều hơn chính thứ vừa hiệu quả hơn, như lái xe nhiều hơn khi xe ăn ít dầu. Rebound gián tiếp: tiền tiết kiệm được chi sang hàng hóa khác, cũng tốn tài nguyên. Hiệu ứng toàn nền kinh tế: giá tài nguyên hiệu dụng giảm làm tăng trưởng nhanh hơn, kéo tổng cầu lên. Khi tổng rebound vượt một trăm phần trăm, toàn bộ phần tiết kiệm biến mất và tổng tiêu thụ tăng - trường hợp đó gọi là backfire, đồng nghĩa với Jevons paradox. Backfire không phổ biến trong nền kinh tế hiện đại, còn độ lớn của rebound vẫn đang tranh luận.
Trong sản phẩm số, nghịch lý này xuất hiện ở chỗ ít ai nghĩ tới. Giảm số bước chuyển tiền từ năm xuống hai làm mỗi giao dịch nhẹ đi, nhưng tổng số giao dịch tăng, nên tổng thời gian người dùng bỏ ra cho việc chuyển tiền có thể tăng, cùng với tổng tải hệ thống và tổng số giao dịch sai người nhận. Tự động hóa khâu đối soát làm chi phí mỗi lần đối soát gần bằng không, và hệ quả thường thấy là số báo cáo đối soát được yêu cầu tăng nhiều lần, tiêu hết phần nhân lực vừa giải phóng.
Điều này không có nghĩa cải tiến hiệu quả là vô ích, mà là phải nói rõ mục tiêu: giảm tổng tiêu thụ, hay tăng sản lượng trên cùng lượng tài nguyên. Hai mục tiêu đó không đi cùng nhau, và một cải tiến hiệu quả chỉ bảo đảm cái thứ hai. Muốn đạt cái thứ nhất, phải đặt thêm một ràng buộc trần lên tổng lượng, chứ không trông vào hiệu quả.
Đây là ví dụ sạch nhất của second-order-thinking: hệ quả vòng một là tiết kiệm, hệ quả vòng hai là nhu cầu nở ra, và vòng hai lớn hơn. Cơ chế bên dưới là một feedback-loops dương, nơi rẻ hơn sinh ra dùng nhiều hơn rồi lại sinh ra đầu tư làm rẻ hơn nữa. Nó cùng cấu trúc với goodharts-law ở chỗ tối ưu một chỉ số cục bộ làm lệch mục tiêu toàn cục, và chia logic với moral-hazard, nơi hạ chi phí của một hành vi thì lượng hành vi đó tăng lên.